Bách bộ bổ phổi, trị ho

Bách bộ còn có tên khác là dây ba mươi, đẹt ác. Bộ phận làm thuốc là rễ củ già của cây bách bộ, thu hoạch vào mùa thu đông, phơi hay sấy khô.

Theo Đông y, bách bộ vị ngọt, đắng, tính ấm vào phế. Có tác dụng ôn phế, sát trùng, bổ phổi chữa ho. Dùng sống: chữa giun kim, giun đũa. Dùng chín trị ho hàn, ho lao. Bách bộ tuy hơi ôn nhưng nhuận mà không táo, còn có thể khai tiết, giáng khí, trị ho thì không thuốc nào bằng, nhất là ho lâu ngày.

bach boBách bộ.

Sau đây là một số bài thuốc trị bệnh có bách bộ.

Chữa trẻ nhỏ ho sốt (phế nhiệt): bách bộ, bối mẫu, cát căn, thạch cao mỗi vị đều 30g. Tán bột, mỗi lần dùng 12g. Ngày 2 lần.

Trị ho lâu ngày: bách bộ (rễ) 80g, giã vắt nước. Sắc lại cho dẻo quánh. Mỗi lần uống 1 muỗng canh, ngày 3 lần.

Trị ho nhiều: dùng bách bộ (cả dây lẫn rễ) giã vắt lấy nước cốt, trộn với mật ong, hai thứ bằng nhau. Nấu thành cao, ngậm nước nuốt từ từ.

Trị tự nhiên ho không dứt: bách bộ (củ rễ), hơ trên lửa nướng cho khô, mỗi lần lấy nước một ít ngậm nuốt nước.

Trị đau bụng do các loại trùng sán: bách bộ nấu thành cao, uống thường xuyên phòng trị các loại trùng.

Trị các loại côn trùng vào lỗ tai: bách bộ (sao) nghiền nát, trộn với dầu mè bôi trong lỗ tai.

Ngoài ra, có thể dùng bài thuốc ngâm rượu “Bách bộ tửu” trị các chứng ho: củ bách bộ xắt mỏng, sao khô cho vào túi vải ngâm trong vò rượu lấy uống dần.

Kiêng kỵ: người tỳ vị hư nhược không nên dùng.

Lương y: Phan Thị Thạnh

7 bài thuốc chữa suy nhược do thận dương hư

Suy nhược cơ thể do thận dương hư thường gặp ở người cao tuổi, đại tiện lỏng mạn tính, suy nhược thần kinh, hưng phấn giảm. Người bệnh thường sợ lạnh, chân tay lạnh, lưng gối mỏi yếu, răng lung lay, di tinh, hoạt tinh, liệt dương, tiểu tiện nhiều lần, suyễn, tai ù, đại tiện lỏng về buổi sáng (ngũ canh tả), mạch trầm trì nhược. Phương pháp chữa là ôn bổ thận dương. Dùng một trong các bài thuốc:

Bài 1: Hữu quy hoàn: lộc giác giao 12g, thục địa 16g, sơn thù 8g (hoài sơn 8g), đỗ trọng 12g, đương quy 8g, kỷ tử 10g, thỏ ty tử 8g, nhục quế 8g, phụ tử chế 8g. Sắc uống ngày 1 thang. Chữa mệnh môn hỏa suy, suy nhược thần kinh thể thận dương hư, đau lưng, mỏi gối, lưng và chi dưới lạnh, liệt dương, hoạt tinh.

Cốt toái bổ (trái) và cẩu tích (phải) là hai vị thuốc trị suy nhược do thận dương hư.

Bài 2: kim anh tử 12g, đỗ trọng 12g, long nhãn 12g, khiếm thực 10g, quy bản 10g, hoài sơn 12g, hà thủ ô 12g, ba kích 10g, cao ban long 10g, thục địa 12g. Sắc uống ngày 2 thang.

Bài 3: thục địa 16g, hoài sơn 12g, sơn thù 12g, đan bì 8g, phục linh 8g, trạch tả 8g, quế nhục 4g, phụ tử chế 8g, ngưu tất 8g, sa tiền tử 8g. Sắc uống ngày 1 thang. Chữa viêm thận mạn tính thể thận dương hư (đau lưng mỏi gối, chi dưới phù, tiểu tiện ít)

Bài 4: thục địa 16g, hoài sơn 12g, sơn thù 12g, đan bì 8g, phục linh 8g, trạch tả 8g, quế nhục 4g, phụ tử chế 8g. Sắc uống ngày 1 thang. Chữa đau lưng, mỏi gối, lưng và chi dưới lạnh, tiểu tiện nhiều lần; chữa viêm thận mạn tính, đái tháo đường, suy nhược thần kinh thể thận dương hư.

Bài 5: bồ câu non 1 con, chim sẻ 5 con, đậu đen 120g, phá cố chỉ 120g, thỏ ty tử 120g. Làm sạch sấy khô tán bột. Ngày uống 15-20g với rượu. Chữa thận dương hư, liệt dương.

Bài 6: ba kích 1kg, hoài sơn 1kg, liên nhục 1kg, sâm bố chính 1kg, đậu đen 0,5kg, thỏ ti tử 1kg, lộc giác 1,5kg, hoàng tinh 0,5kg, tục đoạn 0,5kg, cẩu tích 0,5kg, cốt toái bổ 0,5kg, đường 2kg. Sấy khô, tán bột làm viên. Ngày uống 20g. Chữa thận dương hư, di tinh liệt dương.

Bài 7: Cao trâu cổ: trâu cổ 4kg, đậu đen 4kg, rượu vừa đủ 5 lít. Trâu cổ và đậu đen nấu 2 - 3 lần; hợp nước sắc cô lại thành 3 lít cao lỏng cho rượu thành 5 lít. Ngày uống 3 lần trước bữa ăn, mỗi lần 15ml. Trị thiếu máu, di tinh, đau các khớp mạn tính do thận hư.

Lương y Thảo Nguyên